Lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo - một trong những biện pháp nhằm hình thành nhận thức về bảo vệ môi trường

Printer-friendly versionSend by email

Phần 1: Cơ sở định hướng cho việc xây dựng nội dung giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) trong chương trình đào tạo.
 
I. Cơ sở pháp lý

1. Từ thế kỷ XIX một số nước đã đưa  ra  những  đạo  luật  về  môi  trường như: Luật cấm gây ô nhiễm nước sông ở Anh năm 1876; Luật về khói than ở Mỹ năm  1896;  Luật  khoáng  nghiệp,  Luật sông ở Nhật năm 1896, …

2. Năm 1972, trong tuyên bố của Hội  nghị  Liên  Hiệp  Quốc  về  “Môi trường và con người” họp tại Stockholm đã nêu: “Việc giáo dục môi trường cho thề hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để học có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”. Ngay sau đó, chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEF) cùng với các tổ chức văn hóa – khoa học – giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thành lập chương trình giáo dục môi trường quốc tế (IEEP). Tháng 10/1975 IEEP đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Giáo dục môi trường ở Beograde (Cộng Hòa Liên Bang Nam Tư), kết thúc hội thảo đã đưa ra được một nghị định khung và tuey6n bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường. Trong đó nêu rõ mục tiêu giáo dục môi tiêu giáo dục môi trường là nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi người xác định thái độ và lối sống cá nhân tích cực đối với môi trường; có những hành động cho một môi trường tốt đẹp.

3.  Chỉ  thị  số  36  CT?TW  ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại háo đất nước” đã đưa ra những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường như: “  Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” và “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”

4. Cùng với Luật giáo dục thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ_BGD&ĐT    ngày    2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam và một số văn bản hướng dẫn kèm theo. Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục môi trường ở các trường  phổ  thông  và  trường  sư  phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân.

5. Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”

6. Quyết định số 256/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

8. Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8, đã ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày 1/7/2006

II. Cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học

1.  Bước  vào  thế  kỷ  XXI,  loài người đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn của tự nhiên. Đó là nạn lạm phát tài nguyên, cạn kiệt tài nguyên, nạn ô nhiễm môi trường, … và cũng chính từ những điều này đã tác động không nhỏ tới việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên của con người. Tài nguyên thiên  nhiên  không  còn  là  một  “núi” khổng lồ để con người mặc sức sử dụng chúng để phục vụ những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Đã có một thời, con người ngang nhiên tác động, ngang nhiên tận dụng tài nguyên mà không bao giờ nhìn nhận vấn đề “phát triển bền vững”. Từ đây sẽ đặt ra cho loài người chúng ta những suy nghĩ cần thiết về việc cải tạo, tận dụng tài nguyên như thế nào để đảm bảo được sự bền vững của chúng?
 
2. Giáo dục với nhiệm vụ đào tạo ra những con người không những có kiến thức mà còn phải hội đủ các kỹ năng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng với yêu cầu của đất nước, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, của từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương nói riêng là nhiệm vụ của các trường đại học, cao đẳng. Đào tạo ra những con người sau này sẽ trở thành những nhà quản lý, những người ra quyết định, những nhà kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu, tham gia vào các tổ chức kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, y tế. Họ sẽ tham gia vào các hoạt động mà ít nhiều có liên quan đến môi trường sống. Vì vậy công tác Giáo dục bảo vệ môi trường cho đối tượng sinh viên đại học, cao đẳng với mục đích hình thành các “ nhà chuyên môn thấu hiểu về môi trường” là có tính quyết định đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

III. Nhiệm vụ và những định hướng cơ bản trong giáo dục bảo vệ môi trường

1.  Định  nghĩa  giáo  dục  bảo  vệ  môi trường:

Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “GDBVMT là một quá trình thường xuyên  qua  đó  con  người nhận thức  được  môi  trường  của  họ  và  thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”

Theo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học của TS Lê Xuân Hồng định nghĩa:  “GDBVMT  là  một  quá  trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp cho con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”

Tại     Hội    nghị    quốc    tế      về GDBVMT của Liên hiệp quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1997 xác định GDBVMT có mục đích: “ Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân  tố sinh học, vật lý, hóa học, kinh tế, xã hội, …; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ, kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về môi trường    và    quản     lý    chất    lượng    môi trường”

Luật  Bảo  vệ  môi  trường  năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối  với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
 
2. Nhiệm vụ trong giáo dục bảo vệ môi trường:

Theo tuyên ngôn của Tổ chức UNESCO-UNEP năm  1998  “Giáo  dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu, mà nó là một đường hướng hội nhập vào chương trình đó. Giáo dục bảo vệ môi trường là kết quả của một sự định hướng lại và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật, …), nó cung cấp một nhận thức toàn diện về môi trường”

GDBVMT là một phương pháp tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi người hiểu về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc phát triển và có thái độ cam kết, thái độ này sẽ nuôi dưỡng niềm mong ước và năng lực hành động có trách nhiệm trong môi trường. GDBVMT với không chỉ kiến thức mà còn  cả  tình  cảm,  thái  độ,  kỹ năng và hành động xã hội.

Như vậy, việc GDBVMT cần phải được tiến hành giáo dục sâu rộng ngay từ tuổi  ấu  thơ  tới  tuổi  trưởng  thành,  từ những người làm việc sinh hoạt thường ngày trong cộng đồng tới những người làm công tác chỉ đạo, quản lý, nhà chiến lược kinh tế xã hội.

3. Những định hướng trong GDBVMT

Giáo dục về môi trường nhằm: Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó; những hiểu biết về tác động của con người tới môi trường; trên cơ sở đó xây dựng việc nghiên  cứu  môi  trường  và  những  kỹ năng tư duy để quản lý môi trường.

Giáo dục về môi trường để: Tạo điều kiện cho  việc học  và  hành trong thực tế môi trường; xây dựng những kỹ năng đánh giá thu lượm dữ liệu và phân tích; nuôi dưỡng những nhận thức và các quan niệm về môi trường; phát triển sự đánh giá thẩm mỹ.

Giáo dục bảo môi trường nhằm: xây dựng một nền giáo dục trong môi trường và vì môi trường; phát triển trách nhiệm và xây dựng một nền đạo đức vì môi  trường;  xây dựng  động  cơ  và  kỹ năng tham gia trong việc cải thiện môi trường.

4.  Phương pháp tiếp cận  trong giáo dục bảo vệ môi trường:

Tích    hợp    và    lồng    ghép: GDBVMT là  giáo  dục  tổng  thể  nhằm trang bị những kiến thức về môi trường cho học sinh – sinh viên những kiến thức về môi trường thông qua từng môn học và chương trình riêng phù hợp với từng đối tượng. Việc giáo dục này chủ yếu dựa theo phương thức lồng ghép và liên hệ trong các nội dung giảng dạy của các môn học.

Tính phù hợp ở từng bậc học: Nội dung GDBVMT là  việc cung cấp những thông tin về môi trường cùng những biện pháp bảo vệ môi trường cần được cung cấp theo những cách thức phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của từng nhóm đối tượng; nội dung GDBVMT cần là giáo dục trong môi trường và vì môi trường; GDBVMT là nhìn thấy rõ trách nhiệm và rèn luyện kỹ năng để bảo vệ môi trường.

Tính  tổng  hợp  và  đa  dạng: Trong đời sống xã hội, những nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội luôn luôn có những tác động qua lại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân và của cộng đồng dân cư; do đó, nội dung GDBVMT không chỉ bao hàm các nội dung về môi trường tự nhiên mà còn phải bao hàm cả môi trường xã hội hay còn gọi là môi trường nhân văn.

Tính    hành    động    thực    tiễn: GDBVMT không chỉ giúp sinh viên có thêm nhận thức, hiểu biết cần thiết để bảo vệ môi trường, mà còn phải biết vận dụng các nguyên lý, nguyên tắc vào ngay các vấn đề cụ thể, phải biết làm điều gì đó cho môi trường xung quanh, nghĩa là GDBVMT phải được tiến hành bằng cả phương thức lẫn hành động thực tiễn.

Tính hợp tác, liên hệ và điểm nhân ra diện rộng: GDBVMT là dạy người học biết cách ứng xử và hành động vì môi trường. Vì vậy, cần tận dụng các phương thức hợp tác giữa người dạy và người học, giữa nhà trường với xã hội trong  quá  trình  giáo  dục.  Đồng  thời hướng người học  vận  dụng  ngay hiểu biết để tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề về môi trường.
 
Phần 2: Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm lựa chọn và thiết kế nội dung chương trình trong lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo
 
I. Mục tiêu và nhiệm vụ lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo.

1. Mục tiêu:

Thông qua việc lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo, sinh viên có thể có những tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động về môi trường, cụ thể:

Kiến thức:

-    Một số kiến thức cơ bản về khoa học môi trường.

-    Thực trạng tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động của con người làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên

Kỹ năng:

-    Có kỹ năng nhận diện được các hành vi xâm hại môi trường và có các biện pháp, việc làm cụ thể để góp phần bảo vệ môi trường.

Thái độ:

-    Giúp sv nhận thức rõ vấn đề về thực trạng môi trường hiện nay để có cách ứng xử hợp lý và xây dựng được tình yêu thiên nhiên, con người và yêu thích các hoạt động bảo vệ môi trường.

2. Nhiệm vụ:

Về kiến thức:

-    Cung cấp một số kiến thức cơ bản về môi trường như: Môi trường tự nhiên, môi  trường  xã  hội,  sự  ô  nhiễm  môi
 
trường, ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến đời sống của con người.

-    Cung cấp một số cách thức – biện pháp – hình thức xây dựng nội dung giáo dục bảo vệ môi trường dành cho trẻ mầm non.

Về kỹ năng:

-    Hình thành ở sinh viên những kỹ năng hành động và hành vi phù hợp với môi trường sống.

-    Hình  thành  một  số  kỹ  năng  tổ chức dạy học, biện pháp lồng ghép nội dung giáo dục môi trường ở bậc mầm non.

Về thái độ:

-    Giúp sinh viên nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường đối với bản thân họ, đối với cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ ứng xử đúng đắn trước các vấn đề về môi trường, xây dựng cho mình một quan điểm đúng về tinh thần trách nhiệm, về giá trị nhân cách …

-    Hình  thành  ở  sinh  viên  ý  thức trách nhiệm, và tự giác tham gia và các hoạt động bảo vệ môi trường.

II. Một số nội dung, biện pháp lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học trong chương trình đào tạo.

1. Nội dung

-    Các  khái  niệm  cơ  bản  về  môi trường: môi trường, ô nhiễm môi trường, các hiện tượng thiên  nhiên như thời tiết, khí hậu, mưa axit, hiệu ứng nhà kính,

-    Các vấn đề về môi trường: hiện trạng môi trường, ô nhiễm môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tài nguyên khoáng sản, …

-    Các biện pháp – cách thức giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc học mầm non, ý thức bảo vệ môi trường, những hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, một số giải pháp cải thiện chất lượng môi trường, …

-    Một số chủ đề ngoại khóa như: ô nhiễm môi trường, nguồn rác thải, cây xanh, dân  số  và các  nhu cầu  của con người.

2. Tổ chức các phương pháp thực hiện trong chương trình đào tạo

-    Thông qua bài giảng, bài tập và qua kinh nghiệm thực tế của người học: Định hướng, giúp đỡ sinh viên thiết kế những hình ảnh hoặc quay phim mô tả về môi trường theo từng chủ đề, sau đó sinh viên làm bài thu hoạch và tổ chức thuyết trình trước lớp.

-    Qua tham quan, khảo sát thực địa: Tổ chức cho sinh viên tham quan một số địa điểm cụ thể có thể trong hoặc ngoài trường để giúp sinh viên có thể học cách đánh giá và liên hệ giữa kiến thức và tình hình thực tế.

-    Phương pháp giải quyết vấn đề: Nêu vấn đề và yêu cầu sinh viên vận dụng sự hiểu biết của cá nhân để giải quyết các vấn đề về môi trường theo góc độ cá nhân.
 
3. Biện pháp lồng ghép cụ thể trong chương trình đào tạo

     Xác định mức độ ưu tiên của từng môn học: Việc làm này giúp nhà trường xây dựng được nội dung và phương  pháp  lồng  ghép  GDBVMT theo dặc thù của từng môn học.

Biện pháp thứ nhất: Ở những trường có các học phần cho sinh viên lựa chọn thì có thể xây dựng chương trình bộ môn Môi trường và con người để sinh viên có thể chọn lựa. Ở học phần này chúng ta cần xây dựng chương trình môn học khoảng 60% lý thuyết và 40% thực hành. Có như thế thì sẽ giúp sinh viên vừa có kiến thức khoa học vừa có các kỹ năng xây dựng hoạt động bảo vệ môi trường.

Biện pháp thứ hai: Xác định các môn học có thể lồng ghép nội dung GDBVMT ở các mức độ ưu tiên. Căn cứ vào chương trình đào tạo của từng ngành học, từng trường chúng ta  có  thể  xây dựng hệ thống các môn học có khả năng lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.

     Một số lưu ý trong quá trình tổ chức lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo.

Thứ nhất: Trước khi tổ chức lồng ghép nội dung GDBVMT trong chương trình đào tạo thì cần thành lập một phận chuyên môn quản lý tất cả các nội dung lồng ghép: lồng ghép vào môn học nào, học phần nào, kiến thức nào cần lồng ghép, … nhằm tránh sự chồng chéo và lặp lại kiến thức ở các bộ môn giúp sinh viên hứng thú với môn học và với phần lồng ghép nội dung GDBVMT.

Thứ hai: Nên chú ý xem trong chương trình đào tạo đã có bộ môn Môi trường con người hay Giáo dục môi trường hay không để xác định nội dung kiến thức và tổ chức quá trình lồng ghép một cách có hiệu quả.

Thứ ba: Đừng quá chú trọng phần kiến thức của khoa học môi trường mà cần tăng cường việc lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên.

Thứ tư: Tăng cường tính chủ động học tập của sinh viên ở phần lồng ghép GDBVMT nhằm giúp sinh viên tự nhận thức vấn đề thông qua quá trình trải nghiệm và có cơ hội làm phép so sánh, đối chiếu, đánh giá giữa lý thuyết và thực tiễn …

     Kết quả tại lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP. HCM

-    Ý thức: Bước đầu sinh viên đã có những kiến thức cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường. Với những kiến thức được trang bị, sau khi ra trường sinh viên có thể lồng ghép trong các giờ lên lớp và hoạt động cùng trẻ. Tổ chức cho trẻ thực hành các thí nghiệm về hiện tượng thời tiết – khí hậu, hiện tượng thiên nhiên, giáo dục lòng yêu thiên nhiên, …

-    Thái  độ:  Sinh  viên  có  thái  độ đúng đắn, nhiệt tình hưởng ứng các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường được tổ chức trong các môn học. Mặt khác sinh viên tích cực tham gia các hoạt động, các hội thi có chủ đề về môi trường và bảo vệ môi trường.

-    Hành vi: Bước đầu sinh viên đã có những hành vi bảo vệ môi trường rất tốt như: giữ gìn vệ sinh lớp học, ký túc xá, biết phân công trực vệ sinh, không chạy xe trong sân trường, tác phong gọn gàng, lịch sự khi đến lớp. Các cán bộ - lớp đoàn đã biết đứng ra tổ chức các hoạt động cho sinh tham gia trong công tác giáo dục bảo vệ môi trường.

     Một  số  kiến  nghị  khi  tổ  chức thực hiện đưa nội dung GDBVMT vào chương trình đào tạo.

Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp mọi người nói chung và các bạn sinh viên nói riêng không những chỉ có nhận thức đúng mà còn phải thiết lập được các hành vi cụ thể góp phần đẩy mạnh cuộc vận động, đem lại hiệu quả thiết thực để cuộc vận động “Vì một Việt Nam xanh hơn” không còn là văn bản hướng dẫn, là lời nói có cánh mà kết quả phải nhìn thấy đường phố ngày một sạch hơn, khu phố trở nên tươm tất và văn minh hơn, ứng xử giữa con người với nhau trở nên chân thành và hòa thuận hơn,… Có như thế thì ý nghĩa của cuộc vận động mới trở nên thiết thực, gần gũi và để lại những “dấn ấn” sâu sắc, hiệu quả cả trong thực tế lẫn trong chính tâm khảm của mỗi người.

Thứ nhất: Các trường Đại học – Cao đẳng – Trung cấp hãy bắt tay vào việc xây dựng chương trình giảng dạy bộ môn  Giáo  dục  môi  trường  nhằm  giúp sinh viên hình thành thói quen để bảo vệ môi  trường.  Hãy  dạy  cho  sinh  viên những kiến thức sơ đẳng nhất về  môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường. Hãy tạo điều kiện để sinh viên tự thiết kế hoặc tổ chức thực hiện việc lồng ghép kiến thức môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường ở các môn học trong chương trình đào tạo.

Thứ hai: Tất cả các các môn học trong chương trình đào tạo hãy xác định một số nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cụ thể để đưa vào nhằm giảm tải bớt phần nào cho bộ môn Môi trường con người hoặc Giáo dục  môi trường. Nếu không đủ thời gian và số tiết để lồng ghép các kiến thức lý thuyết thì nên tăng cường các hoạt động nhóm, hoạt động thực hành có nội dung liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường.

Thứ ba: Các tổ chức Đoàn thể trong nhà trường hãy tổ chức những hoạt động thiết thực để bảo vệ môi trường thay cho những lời kêu gọi mang tính hình thức – hô hào. Hãy thành lập những Nhóm hay Câu lạc bộ “Sống đẹp”, “Vì thành phố đẹp hơn”… Với những nhiệm vụ hyết sức thiết thực và hiệu quả

Thứ  tư:  Hãy  tổ  chức  các  hoạt động thực tiễn để mỗi sinh viên có cơ hội học cách sống đẹp – sống có ý nghĩa và tham gia nhiệt tình vào các hoạt động tình nguyện vì một Việt Nam xanh tươi và yên bình.
 
Tài liệu tham khảo

1. Bộ tài liệu Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc - giáo dục mầm non. Mẫu giáo. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội, 2005.

2. Dự thảo chương trình giáo dục Mầm non (2005). Viện Chiến lược và Nghiên cứu chương trình Giáo dục và Vụ Giáo dục Mầm non.

3. Xây dựng chương trình đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào các trường mẫu giáo. Dự án. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội, 1999.

4. Lê Văn Khoa (2002). Khoa học môi trường. Hà Nội.

5. Lê Xuân Hồng (2005). Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non (Đề tài cấp bộ và Dự án Môi trường).

Nguyễn Hữu Long
Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM

Tải báo cáo tại đây