Giải pháp nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại các vùng nông thôn tỉnh An Giang

Printer-friendly versionSend by email

Tóm tắt

Hiện tại, có thể đánh giá rằng, phần lớn các loại chất thải và nhất là chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang được người dân thải trực tiếp vào sông ngòi, kênh rạch (đối với các hộ sống ven sông) và để tự nhiên trên những khu đất trống; một phần được thu gom và đốt vào mùa khô. Để khắc phục hiện trạng này và nhằm thực hiện chiến lược, kế hoạch hành động lâu dài về bảo vệ môi trường, việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, mô hình quản lý mới nhằm nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang là rất cần thiết. Trên cơ sở đó, mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn được triển khai thí điểm tại địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên thông qua dự án “Nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn (địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang)” năm 2002 – 2003 và tiếp tục được Sở KHCN phối hợp với Sở TNMT tổ chức ứng dụng, nhân rộng tại các địa phương khác như: xã Cần Đăng, huyện Châu Thành (năm 2005 - 2006); xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn; xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú (năm 2006 - 2007); xã Quốc Thái, huyện An Phú và thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn (năm 2007 – 2008).

Mô hình đã thực hiện một cách có hiệu quả việc nâng cao nhận thức cũng như năng lực quản lý chất thải rắn cho các cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có liên quan đến lĩnh vực môi trường của địa phương. Cụ thể như, đã đào tạo một đội ngũ cán bộ thuộc các xã và huyện triển khai mô hình đạt được những kiến thức và kỹ năng cơ bản về tuyên truyền, quản lý chất thải rắn. Một lượng lớn rác tồn đọng trong những năm qua cùng với lượng rác mới phát sinh trong thời gian triển khai mô hình đã được thu gom, xử lý và thải bỏ hợp lý hơn.

Trong quá trình triển khai, mô hình đã thực hiện tốt từ khâu tuyên truyền, vận động, đến việc tổ chức, phối hợp thực hiện, cũng như việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện, tạo nền vững chắc cho các địa phương được triển khai mô hình trong việc tiếp tục công tác quản lý chất thải rắn sau khi kết thúc sự hỗ trợ thực hiện từ Sở KHCN và Sở TNMT. Trên cơ sở đó, kiến nghị giải pháp nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn nông thôn tỉnh An Giang với các nội dung chính như sau:

1/ Tuyên truyền nâng cao nhận thức về rác thải và bảo vệ môi trường.

2/ Đào tạo nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn.

3/ Cải tiến, hình thành hệ thống quản lý chất thải rắn tại địa phương.
 
4/ Nhân rộng mô hình quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh An Giang.

5/ Thử nghiệm các công nghệ xử lý rác qui mô nhỏ.

6/ Giáo dục đại học đối với việc nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn.
 
Nội dung chính:

I.    Đặt vấn đề

Dân số ngày càng tăng, nhu cầu về cuộc sống của người dân ngày càng cao dẫn đến việc khai thác tài nguyên thiên  nhiên  và  thải  bỏ  chất  thải  ngày càng nhiều. Điều này đã và đang là một trong những nguyên nhân làm chất lượng môi trường sống ngày càng suy giảm nghiêm trọng. Thật vậy, trong thời gian gần đây, người dân trên toàn địa bàn tỉnh An Giang nói chung và ở các vùng nông thôn nói riêng, đang phải đối mặt với các vấn đề như: suy thoái các nguồn tài nguyên  (bao  gồm:  đất  nông  nghiệp, nước, khoáng sản, sinh vật); và đối mặt với các vấn đề về ô nhiễm môi trường tại các  khu  đô  thị,   công  nghiệp,  nông nghiệp, nông thôn... Nếu như những vấn đề  này  không  được  quan  tâm,  phòng tránh và giải quyết một cách hiệu quả, bền vững, thì trong thời gian tới chúng ta sẽ đối mặt với những tác động tiêu cực của các vấn đề này đến sự tồn tại và phát triển của chúng ta.

Theo kết quả quan trắc hiện trạng môi trường trong những năm qua, nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh An Giang đã và đang bị ô nhiễm, đặc biệt, tại các khu vực vùng sâu, vùng xa. Dân số tăng, diện tích đất bị thu hẹp, hơn nữa, tỷ lệ dân đói nghèo vẫn còn ở mức cao, chính vì thế, việc đầu tư cho các cơ sở hạ tầng nhằm phục  vụ  sinh  hoạt  cho  người  dân  nói chung và phục vụ cho công tác giải quyết chất thải nói riêng, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt chưa được quan tâm đúng mức. Hiện tại, có thể đánh giá rằng, phần lớn các loại chất thải và nhất là chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang được người dân thải trực tiếp vào sông ngòi, kênh rạch (đối với các hộ sống ven sông) và để tự nhiên  trên  những  khu  đất  trống;  một phần được thu gom và đốt vào mùa khô.

Để khắc phục hiện trạng này và nhằm  thực  hiện  chiến  lược,  kế  hoạch hành động lâu dài về bảo vệ môi trường, việc  triển  khai  thực  hiện  các  chương trình, dự án, mô hình quản lý mới nhằm nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang là rất cần thiết.

Với quan điểm đó, thời gian qua, Sở  KHCN  đã  phối  hợp  với  Sở  Tài nguyên và Môi trường An Giang hỗ trợ một số huyện (Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, An Phú, Tri Tôn) triển khai mô hình nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại các xã điển hình, làm cơ sở cho việc nhân rộng cho các địa phương khác trên toàn tỉnh. Đây là  một trong những  mô  hình  quản  lý  chất  thải  rắn được  áp  dụng  hiệu  quả  đối  với  vùng nông thôn An Giang. Mô hình này được ứng dụng triển khai dựa trên kết quả dự án nghiên cứu khoa  học và phát triển công nghệ: “Nâng cao năng lực quản lý chất  thải  rắn  (địa  bàn  xã  An  Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang)” với các mục tiêu và nội dung chính như sau:

1.1. Về mục tiêu thực hiện:

- Xây dựng và đào tạo một đội ngũ tại địa phương (cấp huyện, xã) có kiến thức và kỹ thuật lắp đặt, vận hành mô hình quản lý chất thải rắn từ hoạt động sinh hoạt và thương mại, dịch vụ tại địa phương.

-  Thực  hiện  hiệu  quả  công  tác quản lý, xử lý chất thải rắn trên địa bàn xã điểm (xã được triển khai chương trình nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn) nhằm giảm một lượng lớn chất thải rắn sinh hoạt và thương mại được thải bỏ, xử lý không hợp lý; đồng thời, góp phần giảm thiểu việc gây ô nhiễm môi trường và giảm thiểu những ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trong khu vực.

- Tạo cơ sở cho việc xã hội hóa công tác thu gom, xử lý và quản lý chất thải rắn trên địa bàn xã điểm; đồng thời, tạo  kiện  thuận  lợi  cho  việc  triển  khai nhân rộng mô hình xã hội hóa hoạt động này đến các địa phương khác trên địa bàn tỉnh An Giang.

1.2. Về nội dung thực hiện

-  Tổ  chức  tập  huấn nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ có liên quan đến công tác quản lý, công tác tuyên truyền về môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng. Cụ thể như: các cán bộ quản lý có liên quan thuộc UBND các  xã  và  UBND  huyện  (địa  phương được triển khai chương trình nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn); Cán bộ tuyên truyền thuộc các tổ chức Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ trên địa bàn huyện; Ban công trình công cộng và đại diện ban quản lý các tổ chức thu gom rác khác trên địa bàn huyện được triển khai chương trình...

- Tổ chức thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn tại địa phương theo hình thức phát thanh tuyên truyền, họp cộng đồng, phát động và triển khai các phong trào làm sạch môi trường.

- Xây dựng và chuyển giao mô hình thu gom, xử lý rác; Đầu tư trang thiết  bị,  phương  tiện  thu  gom,  vận chuyển rác và các thùng chứa rác trung chuyển  cho  xã  điểm  được  triển  khai chương trình.

- Thiết lập các trạm trung chuyển rác phù hợp.

II.  Một số kết quả đạt được của các địa phương thực hiện mô hình nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn.

Mô  hình  quản  lý  chất  thải  rắn nông thôn được triển khai thí điểm tại địa  bàn  xã  An  Hảo,  huyện  Tịnh Biên thông  qua  dự  án  “Nâng  cao  năng  lực quản lý chất thải rắn (địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang)” năm 2002 – 2003 và tiếp tục được Sở KHCN phối hợp với Sở TNMT tổ chức ứng dụng, nhân rộng tại các địa phương khác như: xã Cần Đăng, huyện Châu Thành (năm 2005 - 2006); xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn và xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú (năm 2006 - 2007); xã Quốc Thái, huyện An Phú và thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn (năm 2007 – 2008).

Từ kết quả triển khai, có thể đánh giá rằng, mô hình đã thành công trong việc nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư, giúp mọi người có ý  thức về cộng đồng tham gia quản lý rác. Thực tế cho thấy, qua quá trình thực hiện dự án, nhận thức của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn các xã điểm được triển khai mô hình đã tăng lên rõ rệt.

Mô hình đã thực hiện một cách có  hiệu  quả  việc  nâng  cao  nhận  thức cũng như năng lực quản lý chất thải rắn cho các cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có liên quan đến lĩnh vực môi trường của địa phương. Cụ thể như, đã đào tạo một  đội  ngũ  cán  bộ  thuộc  các  xã  và huyện triển khai mô hình đạt được những kiến thức và kỹ năng cơ bản về tuyên truyền, quản lý chất thải rắn. Một lượng lớn rác tồn đọng trong những năm qua cùng với lượng rác mới phát sinh trong thời gian triển khai mô hình đã được thu gom, xử lý và thải bỏ hợp lý hơn.

Trong  quá  trình  triển  khai,  mô hình đã thực hiện tốt từ khâu tuyên truyền, vận động, đến việc tổ chức, phối hợp thực hiện, cũng như việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện. Trên cơ sở đó, đã tạo nền vững chắc cho các địa phương được triển khai mô hình trong việc tiếp tục công tác quản lý chất thải rắn sau khi kết thúc sự hỗ trợ thực hiện từ Sở KHCN và Sở TNMT.

Một  số  kết  quả  đạt  được  về  tổ chức quản lý, thu gom và xử lý rác thải tại các địa phương, cụ thể như:

2.1. Xã An Hảo, huyện Tịnh Biên

Trước khi dự án được triển khai, luợng  chất  thải  rắn  được  đội  vệ  sinh thuộc xã An Hảo thu gom, quản lý đạt khoảng  8%  tổng  lượng  rác  thải  bỏ (không kể rác thải của du khách). Đối với 92% lượng rác thải không được thu gom và thải bỏ đúng nơi qui định, một số hộ dân tự xử lý bằng cách đốt (chiến tỷ lệ khoảng 24 - 35% tổng số hộ được điều tra); một số khác sử dụng biện pháp chôn tại sân vườn (2,6 - 3,8% hộ dân) và làm phân bón (chiếm tỷ lệ 2,7 - 5,1%). Các hộ dân còn lại thải bỏ trực tiếp rác thải vào các ao, hồ, suối và khu đất trống gần nhà. Riêng đối với tuyến đường lên Núi Cấm, rác thải từ du khách và các hộ dân sinh sống, kinh doanh trên tuyến đường này thật sự chưa được quan tâm và quản lý đúng mức. Do đó, việc nghiên cứu cải tiến hệ thống thu gom rác thật sự là một trong  những  vấn  đề  quan  trọng  cần nghiên cứu thực hiện trong dự án nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn.

Kết  quả  đạt  được  sau  khi  triển khai dự án:

- Về tổ chức thu gom:

+ Thu gom được rác trên tất cả các tuyến đường chính ở khu vực dưới chân núi (ấp An Hòa) và trên núi (ấp Thiên Tuế, Vồ  Đầu),  khu  hành chính, khu chợ, khu dân cư và trung tâm của khu du lịch Lâm Viên.

+ Tổng lượng rác được thu gom, xử lý: 78,4 tấn (từ 8/2003 – 12/2003), chiếm khoảng 43% tổng lượng rác thải bỏ trên toàn xã  An  Hảo, tăng khoảng
35% trước khi thực hiện dự án; trong đó, rác hữu cơ, loại rác dễ phân hủy, chiếm khoảng  2/3  tổng  lượng  rác  được  thu gom, bao gồm: dưới chân núi: 68,8 tấn (bình quân    500kg/ngày); trên núi: 9,6 tấn (bình quân 200kg/ngày), rác sau khi thu gom được cho vào khoảng 50 hố rác, bãi rác lâu năm (trong đó, khoảng 7 hố cố định) và xử lý bằng chế phẩm EM. Một phần nhỏ rác từ các hố chứa rác lâu năm, dung tích nhỏ được xử lý bằng cách đốt.

2.2. Xã    Cần    Đăng,    huyện    Châu Thành

Ước tính tổng lượng chất thải rắn bình quân mỗi ngày từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại trên địa bàn xã Cần Đăng, huyện Châu Thành của các hộ dân chiếm khoảng 11 tấn/ngày (tính toán theo các số liệu thống kê năm 2005 của Sở Khoa học và Công nghệ), trong đó đặc biệt chú ý: chất thải độc hại như: vỏ bao thuốc bảo vệ vật, pin chì...: 32 tấn/năm. Các loại chất thải này rất khó xử lý và dễ tích tụ độc chất trong động thực vật dẫn đến gây nguy hại sức khỏe con người khi ăn phải các động thực vật bị nhiễm; túi ni lon chiếm: 21,861 tấn/năm. Đây là loại chất thải khó phân hủy  trong  môi  trường,  gây  xấu  cảnh quan, làm thu hẹp diện tích đất canh tác và làm ô nhiễm môi trường nước
 
Các loại chất thải rắn trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước nói riêng và môi trường sống nói chung. Trong khi đó, hiện trạng hệ thống quản lý chất thải ở khu vực này chỉ mang tính tự phát và gây ô nhiễm môi trường. Lượng chất thải  rắn  được đội  vệ sinh thuộc xã  Cần  Đăng thu  gom,  quản  lý (trong thời gian qua) đạt khoảng 15,97% tổng lượng rác thải bỏ. Đối với 84,03% lượng rác thải không được thu gom và thải bỏ đúng nơi qui định, đa số hộ dân tự  xử  lý  bằng  cách  đốt  (chiến  tỷ  lệ khoảng 45 - 55% tổng số hộ được điều tra); một số khác sử dụng biện pháp chôn tại sân vườn (2,6 - 3,8% hộ dân) và làm phân bón (chiếm tỷ lệ 2,7 - 5,1%). Các hộ dân còn lại thải bỏ trực tiếp rác thải vào sông, ao, hồ và khu đất trống gần nhà. Riêng đối với khu vực chợ xã Cần Đăng, rác thải từ các hộ dân sinh sống và hộ kinh doanh ở khu vực này thật sự chưa được quan tâm và  quản lý đúng mức. Điều này đã gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan nói chung và chất lượng nguồn nước sinh hoạt nói riêng. Chính vì thế, việc cải tiến hệ thống thu gom rác thật sự là một trong những vấn đề quan trọng cần thực hiện trong thời gian tới nhằm làm tăng gấp đôi tỷ lệ rác được thu gom từ 15,97 % lên 38,64 % và giảm lượng rác thải không được thu gom từ 84,03 % xuống 61,38% .

Trên cơ sở tình hình thực tế về rác thải của các xã thuộc huyện Châu Thành nói chung và xã Cần Đăng nói riêng; Và nhằm thực hiện tốt công tác quản lý, xử lý  rác;  Ủy  ban  nhân  dân  huyện  Châu Thành  phối  hợp  với  Sở  Khoa  học  và Công  nghệ,  Sở  Tài  nguyên  và  Môi trường  An  Giang  triển  khai  mô  hình quản lý xử lý rác trên địa bàn xã Cần Đăng, huyện Châu Thành. Mô hình này đã được thực hiện từ tháng 8 năm 2005 và đạt được một số kết quả như sau:

- Về lượng rác được thu gom, xử lý và chuyển về bãi rác của huyện mỗi ngày khoảng 3,2 tấn, tăng 1,7 tấn/ngày so với trước đây.

- Về phạm vi thu gom rác: trong thời gian triển khai mô hình, phạm vi được mở rộng hơn trước, bán kính của khu vực được thu gom tính từ trung tâm xã là 500 mét, tăng 200 mét so với trước đây.

- Về số hộ tham gia mô hình: số hộ đăng ký và tham gia thực hiện mô hình ngày càng nhiều (452 hộ), tăng 41% so với trước. Bên cạnh đó, ý thức người dân về vấn đề bảo vệ môi trường, thải bỏ rác  thải  đúng  nơi  qui  định  ngày càng tăng lên rõ rệt.

2.3. Xã  Vĩnh  Khánh,  huyện  Thoại Sơn; xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú; xã Quốc Thái, huyện An Phú và thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn

Theo đánh giá của Sở KHCN và Sở TNMT, mô hình nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại các địa phương trên đã đáp ứng được các mục tiêu đề ra, bước đầu tạo dựng được  mô hình điểm thu  gom  rác  tại  các  huyện  được  triển khai  hỗ  trợ  thực  hiện  mô  hình,  hình thành được đội ngũ quản lý, thu gom rác mang tính chuyên nghiệp tại địa phương.
 
Bên  cạnh  đó,  ý  thức  về  bảo  vệ  môi trường của các người dân tại các địa phương này cũng được nâng cao, tạo tiền đề tốt cho công tác duy trì hoạt động quản lý, thu gom rác thải và triển khai thử nghiệm các mô hình xử lý rác tại chỗ với qui mô nhỏ, phù hợp.

III. Kiến  nghị  giải  pháp  nâng  cao năng lực quản lý chất thải rắn nông thôn tỉnh An Giang và vai trò của giáo dục đại học.

3.1. Tuyên  truyền  nâng  cao  nhận thức về rác thải và bảo vệ môi trường:

-    Các địa phương cần tích cực tham gia thực hiện các chiến dịch tuyên truyền về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng do Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như Sở Tài  nguyên  và  Môi  trường  phát  động hàng năm. Ngoài ra, địa phương cũng cần phải chủ động tổ chức các đợt tuyên truyền vận động khác theo điều kiện thực tế  của  địa  phương.  Mục  tiêu  của  các chiến dịch tuyên truyền, vận động nhằm nâng  cao  nhận  thức  cũng  như  trách nhiệm của các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý có liên quan đến lĩnh vực môi trường và quản lý chất thải, quan trọng hơn nữa là nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân sống và làm việc trên địa bàn xã.

- Về hình thức tuyên truyền, có thể sử dụng hình thức phát thanh hàng tuần,  tranh  ảnh  cổ  động,  tổ  chức  các chiến dịch vệ sinh môi trường (quét dọn rác, khai thông cống rảnh...), tổ chức giải quyết  các  tranh  chấp  về  môi  trường thông  qua  các  buổi  họp  dân  trong  tổ, trong ấp...

3.2. Đào tạo nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn:

Công  tác  quản  lý  chất  thải  rắn ngày càng đòi hỏi người tham gia phải có những kiến thức cơ bản về qui trình quản lý hợp lý và hạn chế các tác động đến môi trường. Do thành phần rác ngày càng phức tạp, nên việc quản lý rác như thời gian qua thật sự đã ảnh hưởng tiêu cực  đến  chất  lượng  môi  trường.  Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên là do thiếu thốn về các cơ sở vật chất và đặc biệt là hạn chế về nguồn nhân lực có kiến thức quản lý chất thải. Chính vì thế, việc nâng cao năng lực đội ngũ kỹ thuật quản lý chất thải cấp huyện, xã là rất cần thiết. Việc làm này sẽ tạo cho địa phương một đội ngũ nhân lực làm công tác quản lý chất thải có những kiến thức cơ bản về thành phần rác thải, cách phân loại, tái sử dụng, tái chế, và quản lý chất thải một cách bền vững...

Về đối tượng được đào tạo: Lựa chọn và cử một số cán bộ tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn hoặc dài hạn do Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc các đơn vị khác có năng lực trong lĩnh vực này tổ chức. Cán bộ được lựa chọn phải có khả năng tiếp nhận những kiến thức về quản lý chất thải rắn, đồng thời, đang hoặc được qui hoạch đảm nhiệm công tác này tại địa phương.

Phương pháp đào tạo: truyền đạt lý  thuyết,  thảo  luận  nhóm,  tham  quan thực địa tại một số bãi rác và khu vực tái chế, xử lý rác.

Nội dung đào tạo: Nghiên cứu xây dựng tài liệu tập huấn và tổ chức tập huấn nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý chất thải rắn tại địa phương. Thông qua lớp tập huấn, các học viên được trang bị các kiến thức cơ bản về: Tổng quan về chất thải rắn; Thành phần và phân loại chất thải rắn; Hệ thống quản lý tổng hợp chất thải rắn; Các công cụ trong quản lý chất thải;  Công cụ kinh tế trong  quản  lý  chất  thải  rắn;  Những nguyên lý cơ bản của kinh tế chất thải; Hệ thống kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn; Giáo dục cộng đồng trong quản lý chất  thải  rắn;  Ủ  phân  compost;  Giới thiệu  phương  pháp  tư  duy  trong  giải quyết  vấn  đề;  Các  phương  pháp  thảo luận tư duy…

3.3. Cải  tiến,  hình  thành  hệ  thống quản lý chất thải rắn tại địa phương:

- Tổ chức mới về nguồn lực tham gia mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn tại địa phương (cấp huyện, xã) (đối với những địa phương chưa có đơn vị quản lý, thu gom rác) hoặc sắp xếp, cải tiến lại mô hình quản lý, thu gom rác (đối với những địa phương đã có nhưng hoạt động không hiệu quả), trước hết, thông qua việc thành lập Ban quản lý chất thải rắn do UBND xã quản lý,  bao gồm các công nhân thuộc đội thu gom rác.

Đối với công nhân thu gom rác, cần trang bị cho công nhân những kiến thức cơ bản, sơ bộ về thành phần, cách phân loại, xử lý và thải bỏ rác thải hợp lý. Cần cung cấp thêm nhiều thông tin về loại rác thải có thể được tái sử dụng, tái chế và nơi thu mua các loại phế thải này. Ngoài ra, phải trang bị đầy đủ các dụng cụ lao động và bảo hộ lao động nhằm tạo điều kiện làm việc an toàn hơn cho công nhân.

Khi công tác quản lý chất thải của địa phương hoạt động ổn định, UBND xã cần tổ chức đấu thầu công khai cho các tổ chức cá nhân có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu mà công tác này đề ra, nhằm thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác quản lý chất thải rắn nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung.

- Xây dựng kế hoạch thu gom rác (khu vực thu gom, lịch trình, tổ chức thu phí, phân loại để thuận lợi cho việc tái sử dụng, tái chế, giải pháp xử lý sơ bộ, kinh phí triển khai….).

Xác định các khu vực cần được tổ chức thu gom, trước hết tập trung vào các khu vực chợ, khu hành chính, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các khu dân cư tập trung đông đúc khác nằm ven các tuyến đường có điều kiện hạ tầng phù hợp với phương tiện vận chuyển tại địa phương. Địa phương cần có kế hoạch mở rộng mạng thu gom nhằm đáp ứng với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và góp phần làm giảm chi phí tổ chức và đầu tư cho công tác này.

Về lịch trình thu gom, vận chuyển rác, cần thường xuyên theo dõi và nghiên cứu lịch trình này để tổ chức thực hiện phù hợp với các yêu cầu tối ưu về lượng rác, nhân công, phương tiện vận chuyển, yêu cầu của chủ nguồn thải... sao cho chi phí  thu  gom thấp  nhưng đạt  hiệu quả cao. Đối với công đoạn vận chuyển, có thể đánh giá rằng, trong công đoạn này, phương tiện vận chuyển là một trong những  nhân  tố  quan  trọng  quyết  định hiệu quả của hoạt động thu gom. Việc đầu tư phương tiện vận chuyển phải phù hợp với điều kiện về địa hình, hạ tầng, kinh    phí,    lượng    rác    thải...    của    địa phương.    Ngoài ra, việc lựa chọn tuyến đường vận chuyển cũng cần phải quan tâm sao cho chiều dài quãng đường vận chuyển ngắn, thuận lợi và đáp ứng các yêu cầu đề ra.

Về việc phân loại, xử lý và thải bỏ rác, công nhân thu gom rác cần quan tâm tách riêng những phế thải có thể tái sử dụng, tái chế từ khối rác (bao gồm các loại rác hữu cơ dễ phân hủy). Có thể sử dụng trạm trung chuyển làm nơi phân loại rác và xử lý một phần rác hữu cơ dễ phân hủy sau thu gom theo phương pháp compost hóa trong điều kiện sử dụng chế phẩm sinh học nhằm làm tăng quá trình phân hủy rác, giảm mùi hôi từ khối rác và hạn chế được côn trùng gây bệnh... Đồng thời, có thể thu hồi các rác thải vô cơ có khả năng tái sử dụng, tái chế tại mặt  bằng khu  vực  trạm trung chuyển. Các loại rác thải sau khi đã được phân loại tại trạm trung chuyển, phần còn lại (những loại rác vô cơ không được thu hồi để tái sử dụng, tái chế và những loại rác hữu cơ khó phân hủy khác) sẽ được vận chuyển về bãi rác chung của huyện để thải bỏ.
 
Về  hình thức và mức thu phí thu gom, xử lý và thải bỏ rác thải bỏ rác thải, nhằm duy trì hoạt động quản lý rác thải, địa phương cần thực hiện tốt quá trình vận động các hộ dân, hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn tích cực tham gia chương trình quản lý rác thải mà địa phương đang thực hiện. Mức phí và cách thu phí phải được người dân thống nhất cao và thể hiện rõ trong hợp đồng thu gom, xử lý rác thải giữa chủ nguồn thải và đơn vị quản lý hoạt động này. Để thực hiện tốt công tác vận động, UBND xã nên phối hợp chặt chẽ với các tổ chức mặt trận, đoàn thể của địa phương triển khai một cách thường xuyên và có hiệu quả về vấn đề quản lý rác, qua đó, vận động sự đồng tình của chủ nguồn thải về mức phí và cách thu phí thu gom.

Để duy trì mô hình sau khi kết thúc chương trình thông qua các dự án hỗ trợ, UBND xã cần phối hợp chặt chẽ với Ban Công trình công cộng huyện và các đơn vị quản lý có liên quan khác nghiên cứu và đề xuất phương án đưa chi phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng vào kinh phí hoạt động hàng năm của địa phương trên cơ sở phân cấp về quản lý và ngân sách.

3.4. Nhân rộng mô hình quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh An Giang

Trên cơ  sở các giải  pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn trên địa  bàn  các  xã    thuộc các  huyện được triển khai mô hình, các địa phương khác có thể vận dụng các giải pháp này nhằm xây dựng hoặc cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn tại mỗi địa bàn tùy vào điều kiện thực tế của từng nơi. Cụ thể như, cần quan tâm đến các yếu tố quan trọng trong hệ thống quản lý chất thải rắn như: Yếu tố về nguồn nhân lực có khả năng tham gia quản lý chất thải rắn; Mức độ nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng của các cấp lãnh đạo cũng như các tầng lớp nhân dân tại địa phương; Điều kiện về kinh tế xã hội và qui hoạch phát triển của mỗi địa phương; Điều kiện về tự nhiên, địa hình của mỗi vùng như: vùng núi, nhiều đồi dóc hay vùng ngập lụt, trủng, thấp; Điều kiện về địa giới hành chính hiện tại và trong tương lai. Ngoài ra, cũng cần quan tâm hiện  trạng  dân  số  và  chất  lượng cuộc sống của người dân trong các cụm tuyến dân cư tại mỗi khu vực; Cần quan tâm đến điều kiện về hạ tầng, trang thiết bị hiện có và khả năng đầu tư đối với các đáp ứng trong hệ thống quản lý chất thải
rắn...

Việc quản lý chất thải rắn là một trong những công tác đòi hỏi phải có giải pháp tổng hợp từ nhiều lĩnh vực như: kỹ thuật, hành chính, xã hội, kinh tế... và cần có sự hợp tác chặt chẽ của cả cộng đồng. Chính vì thế, đây được xem là một trong những vấn đề gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện từ nhiều năm qua và ngay cả trong thời gian tới. Tuy nhiên, để góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội, công tác quản lý chất thải rắn đòi hỏi phải được quan tâm và  thực hiện hiệu quả  nhằm cải  thiện chất lượng môi trường, cảnh quan môi trường và quan trọng hơn nữa, chính là chất lượng cuộc sống của cả cộng đồng.

Về  các  chế  tài  trong  quá  trình thực hiện công tác quản lý chất thải rắn tại  địa  phương, cần  ban  hành  các  qui định về việc xử lý, thải bỏ rác thải của người dân trên địa bàn xã, đặc biệt đối với các hộ dân không có hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó, phải qui định chi tiết về đối tượng xả thải rác, phương pháp xử lý rác, nơi thải bỏ rác, hình thức phạt, mức phạt đối với những hành vi vi phạm... trên cơ sở Pháp luật hiện hành và phân cấp quản lý đối với địa phương. Qui định này phải được thống nhất của Hội đồng nhân dân của địa phương. Trong quá trình triển khai thực hiện, UBND xã cần kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm phát hiện kịp  thời những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp để hoàn chỉnh dần qui định và để qui định đi vào cuộc sống của người dân.

3.5. Thử nghiệm các công nghệ xử lý rác qui mô nhỏ

Việc thử nghiệm và lựa chọn mô hình công nghệ xử lý rác phù hợp với điều kiện và thành phần rác thải nông thôn tại các địa phương cũng cần được nghiên cứu triển khai ngay sau khi rác thải được thu gom, quản lý tốt. Rác thải nông thôn với hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy cao, vì vậy, việc nghiên cứu triển khai thử nghiệm các công nghệ xử lý kết hợp tái chế chất thải hữu cơ thành chất mùn, phân hữu cơ… là rất cần thiết, nhằm góp phần làm giảm nhanh lượng rác thải bỏ, tận dụng rác hữu cơ phân hủy thành mùn, làm nguyên liệu chế biến phân hữu cơ sinh học phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp. Một số mô hình công nghệ có thể được nghiên cứu ứng dụng như: công nghệ xử lý chất thải rắn bằng biện pháp yếm khí tùy nghi (ABT), công nghệ xử lý bằng phương pháp ủ yếm – háo khí cưỡng bức…

3.6. Giáo  dục  đại  học  đối  với  việc nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn

Nhằm nâng cao năng lực quản lý cũng như các giải pháp kỹ thuật trong tái chế,  xử  lý  chất  thải  chất  thải  rắn  nói chung và chất thải rắn tại các khu vực nông thôn nói riêng rất cần sự tham gia của giáo dục đại học.

Giáo dục đại học có vai trò lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho cộng đồng, xã hội có khả năng đáp ứng các  yêu  cầu  về  lĩnh  vực  bảo  vệ  môi trường cũng như lĩnh vực quản lý chất thải  rắn  thông  qua  các  đề  tài,  dự  án nghiên cứu, triển khai, và đặc biệt là, thông  qua  chương  trình  đào  tạo  ngắn hạn, dài hạn của các trường đại học.

Một số nội dung đào tạo và các đề tài,  dự  án  cần  được  nghiên cứu,  triển khai để có thể đáp ứng tốt về nguồn nhân lực cũng như cơ sở lý luận phục vụ cho công tác quản lý chất thải rắn, cụ thể như: đào tạo về quản lý dự án, kiểm toán môi trường, kinh tế chất thải, các giải pháp kỹ thuật để thu gom, xử lý và tái
chế chất thải rắn.

Tài liệu tham khảo/ References:

1/ ThS. Đinh Thị Việt Huỳnh, Báo cáo kết quả dự án “Nâng cao năng lực quản lý
chất thỉa rắn (địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang”), năm 2004, .

2/ Sở Khoa học và Công nghệ An Giang, Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, Báo cáo kết quả “Chuyển giao mô hình quản lý, xử lý chất thải rắn” trên địa bàn huyện Châu Thành (2005), huyện Thoại Sơn (2006), huyện Châu Phú (2006), huyện An Phú (2008), huyện Tri Tôn (2008).

3/ ThS. Trương Kiến Thọ, ThS. Nguyễn Trần Thiện Khánh, KS. Đoàn Văn Nhã, KS. Nguyễn Dương Quỳnh, Báo cáo kết quả “Chế biến compost bằng công nghệ ủ yếm khí – háo khí cưỡng bức”, năm 2007.

4/ ThS. Trương Kiến Thọ, Báo cáo kết quả “Ứng dụng công nghệ A.B.T xử lý rác thải sinh hoạt công suất 5 m3/ngày tại xã An Hảo - huyện Tịnh Biên”, năm 2009.

Đinh Thị Việt Huỳnh
Sở Khoa học Công nghệ tỉnh An Giang

Tải báo cáo tại đây